GẠO MẦM VIBIGABA: KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM LÂM SÀNG.

Tóm lược kết quả khảo sát lâm sàng “Khả năng ổn định đường huyết của gạo mầm VIBIGABA trong bệnh tiểu đường”

I. Động cơ nghiên cứu:

 Thầy thuốc chuyên khoa nội tiết đã biết rõ từ lâu về mối liên hệ mật thiết giữa tình trạng ổn định đường huyết và nguy cơ biến chứng nghiêm trọng trong bệnh tiểu đường như tai biến mạch máu não, suy thận, nhồi máu cơ tim, thoái hóa võng mạc, hoại tử đầu chi … Nói cách khác, để ngăn ngừa biến chứng trong bệnh tiểu đường, mục tiêu hạ đường huyết vốn khả thi không mấy khó nhờ thuốc đặc hiệu lại không quan trọng bằng ổn định đường huyết.

Kết quả chắc chắn của nhiều công trình nghiên cứu cho thấy bệnh trầm uất chiếm tỷ lệ không dưới 60% ở bệnh nhân tiểu đường có lượng đường huyết dao động quá thường! Nhiều thầy thuốc trị bệnh tiểu đường vì thế căn cứ vào trạng thái tinh thần của người bệnh để đánh giá hiệu quả của liệu pháp, thay vì chỉ dựa vào trị số mang ý nghĩa hạn hẹp của đường huyết. Thêm vào đó, trầm uất là phản ứng phụ khó tránh của thuốc hạ đường huyết. Phức tạp chính ở điểm các loại thuốc chống trầm uất hầu như không tác dụng nếu đường huyết không ổn định. Đáng nói hơn nữa là việc lạm dụng thuốc an thần ở người bệnh tiểu đường. Thầy thuốc chuyên khoa thần kinh đã chứng minh xác suất đột quỵ rất cao ở nhóm bệnh nhân tiểu đường thường dùng thuốc an thần loại hóa chất tổng hợp.

Thêm vào đó, bệnh nhân có lượng đường huyết không ổn định là đối tượng thường xuyên trăn trở vì cảm giác đói, nhất là trong đêm. Bệnh nhân vì thế vừa khó tuân thủ chế độ dinh dưỡng kiêng khe, vừa trong tâm trạng bất an khiến trầm uất, mất ngủ là vấn đề hầu như thường gặp của đa số người bệnh tiểu đường.

Đáng lo không kém, theo thống kê của bảo hiểm y tế ở CHLB Đức từ dữ liệu tập trung trong 5 năm vừa qua, khoảng 70% bệnh nhân tiểu đường đồng thời có lá gan nhiễm mỡ, phần do hậu quả của rối loạn biến dưỡng chất béo, phần do phản ứng phụ của thuốc đặc hiệu phải dùng lâu ngày. Bằng chứng là dấu hiệu tăng men gan, cụ thể là loại men GGT, được ghi nhận ở nhiều người bệnh tiểu đường nếu đường huyết không ổn định. Men gan GGT càng tăng, mức độ viêm tấy trong gan càng trầm trọng, biến chứng thần kinh, tim mạch, tiết niệu, sinh dục … càng dễ xảy ra. Chính vì thế mà thầy thuốc điều trị bệnh tiểu đường cũng cần theo dõi men gan để qua đó đánh giá hiệu quả của liệu pháp cũng như tiên lượng tốt xấu của người bệnh để thương tổn trong gan đừng trở thành đòn bẩy cho diễn biến ác tính như xơ gan, ung thư gan.

Do đó, nếu có cách nào để người bệnh tuy ăn no nhưng vẫn ổn định đường huyết thì đó là giải pháp để vừa đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người bệnh tiểu đường, vừa ngăn chặn biến chứng của căn bệnh này.

Với mục tiêu đó, gạo mầm VIBIGABA đã được đưa vào nghiên cứu lâm sàng trong mô hình ứng dụng cho bệnh nhân tiểu đường tuy đã được điều trị với thuốc đặc hiệu nhưng đường huyết không ổn định.

 II. Nội dung nghiên cứu:

Để đánh giá tình trạng ổn định đường huyết, không thể căn cứ vào trị số xét nghiệm đường huyết lúc bụng đói (FBS) vì trị số này dễ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan như cảm xúc, giấc ngủ, thuốc cảm

Thay vào đó, thầy thuốc phải dựa vào 2 xét nghiệm khác có độ chính xác tối ưu. Đó là:

  • Đường huyết 2 giờ sau bữa ăn (BS/2h). Lượng đường tăng cao trong máu cao hơn 180mg càng kéo dài càng bất lợi cho người bệnh vì đó là đòn bẩy dẫn đến rối loạn biến dưỡng chất béo.
  • Lượng đường gắn vào huyết cầu tố HbA1C. Trị số này, nhờ thời gian tồn tại của huyết cầu là 90-100 ngày, phản ánh mức độ giao động đường huyết trong 3 tháng trước thời điểm xét nghiệm. Trị số này càng cao biến chứng trên vi mạch (não, thành tim, đáy mắt, cầu thận) càng nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, mô hình nghiên cứu đồng thời cần được tập trung vào các tiêu chí tuy dựa vào cảm giác chủ quan của người bệnh nhưng phản ánh gián tiếp mức độ ổn định của đường huyết. Đó là:

  • Cảm giác đói trong đêm.
  • Chất lượng của giấc ngủ bao gồm số giờ và độ sâu.
  • Cảm giác đau đầu bần thần khi thức dậy.
  • Khuynh hương trầm uất.

Phương tiện điều trị, bên cạnh hiệu quả tất yếu, đồng thời phải an toàn, nhất là khi sử dụng cho đối tượng cần được theo dõi phản ứng tương tác với thuốc đặc hiệu đang dùng. Chức năng gan thận vì thế cũng là tiêu chí cần được đánh giá trong thời gian áp dụng

III. Mô hình nghiên cứu:

  1. Đối tượng: Bệnh nhân trong độ tuổi từ 50 đến 70 đã được phát hiện bệnh tiểu đường tối thiểu từ hai năm, đang được điều trị đồng nhất với thuốc đặc hiệu đời mới là GLUCOVANCE 500/5 theo liều mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 viên nhưng đường huyết không ổn đinh, cụ thể với trị số HbA1C tăng tối thiểu 30% cao hơn định mức bình thường.
  2. Số lượng: 50 bệnh nhân bao gồm 25 nam và 25 nữ
  3. Hình thức áp dụng: mỗi ngày 1 chén rưỡi cơm gạo mầm tương đương vào bữa cơm chiều, tương đương với 80g gạo mầm VIBIGABA, trong khẩu phần ổn định về lượng rau cải và đạm động vật.
  4. Thời gian nghiên cứu: 15 -30 ngày cho mỗi bệnh án.
  5. Tiêu chí nghiên cứu:
  • Theo dõi đường huyết 2 giờ sau khi ăn mỗi ngày
  • So sánh cảm giác đói bụng mỗi 5 ngày một lần trong suốt liệu trình.
  • So sánh trị số HbA1C trước và sau 4 tuần áp dụng chế độ dinh dưỡng nêu trên
  • Kiểm soát chức năng gan thông qua trị số xét nghiệm men gan (SGOT, SGPT, GGT) và chức năng thận (Creatinin) trước và sau 4 tuần dùng gạo mầm VIBIGABA.

IV. Kết quả nghiên cứu:

Thống kê sau 15 – 30 ngày áp dụng gạo mầm VIBIGABA theo mô hình nêu trên cho thấy các kết quả như sau:

1. Cảm giác đói:

  • 30% giảm cảm giác đói trong đêm sau 5 ngày dùng thành phẩm.
  • 40% giảm cảm giác đói trong đêm sau 10 ngày dùng thành phẩm.
  • 70% giảm cảm đói trong đêm sau 15 ngày dùng thành phẩm.
  • 85% giảm cảm đói trong đêm sau 30 ngày dùng thành phẩm.

 2. Đường huyết:

  • Thay đổi về đường huyết đo 2 giờ sau khi ăn không rõ rệt trong 3 ngày đầu dùng thành phẩm.
  • Đường huyết đo 2 giờ sau khi ăn được cải thiện trung bình 30% ở 30 bệnh nhân (60%) sau 5 ngày dùng gạo VIBIGABA
  • Đường huyết đo 2 giờ sau khi ăn được cải thiện trung bình 50% ở 40 bệnh nhân (80%) sau 10 ngày dùng thành phẩm.
  • Đường huyết đo 2 giờ sau khi ăn được cải thiện trung bình 60% ở 40 bệnh nhân (80%) sau 15 ngày dùng thành phẩm.
  • Trị số HbA1C được cải thiện tối thiểu 60% sau 1 tháng dùng gạo mầm VIBIGABA ở 35 bệnh nhân (70%) trong số đó 60% trở về định mức bình thường.

3. Chức năng gan thận:

  • Xét nghiệm Creatinin trên tất cả bệnh nhân cho thấy trị số này không thay đổi sau 15 ngày dùng gạo mầm VIBIGABA cho thấy việc sử dụng thành phẩm có độ an toàn tối đa.
  • Trị số GGT giảm trung bình 30% trong số 40% bệnh nhân trước đó đã tăng GGT sau 15 ngày dùng gạo mầm VIBIGABA.
  • Trị số GGT giảm trung bình 55% trong số 60% của nhóm bệnh nhân này sau 4 tuần có bữa cơm chiều với gạo mầm VIBIGABA.

4. Tổng trạng:

  • Dấu hiệu được cải thiện sớm nhất là tình trạng đau đầu khi thức dậy ở 60% bệnh nhân.
  • Chất lượng của giấc ngủ được cải thiện sau 15 ngày dùng gạo mầm VIBIGABA ở bệnh nhân và tăng đến 80% trường hợp sau 4 tuần kết hợp gạo mầm trong chế độ dinh dưỡng.
  • Tình trạng bi quan vô cớ cũng thuyên giảm sau 15 ngày dùng gạo ở 45% bệnh nhân và tăng đến 65% sau 4 tuần dùng gạo mầm thay gạo trắng cho bữa cơm chiều.

V. Đánh giá chủ quan của người tiêu dùng:

  • 90% hài lòng với cảm giác no bụng, ngủ yên và cải thiện tổng trạng sau 15 ngày dùng gạo mầm VIBIGABA
  • 80% chủ động áp dụng lâu dài.
  • 70% sẵn sàng dùng gạo mầm VIBIGABA cho cả hai bữa cơm.

 VI. Kết luận:

 1.      Gạo mầm VIBIGABA nên được áp dụng thường xuyên cho bệnh nhân tiểu đường có lượng đường huyết không ổn định để qua đó vừa kiểm soát cảm giác đói, vừa giúp bệnh nhân có khẩu phần không quá khắt khe lượng nhưng vẫn không tăng đường huyết kéo dài sau bữa ăn.

2.      Với đối tượng có lượng đường huyết ngấp nghé ngưỡng bệnh lý, có cuộc sống dễ dẫn đến bệnh tiểu đường, chẳng hạn vì tác động của nội tiết tố tuyến thượng thận corticosteroid sản sinh trong tình huống stress liên tục, việc áp dụng VIBIGABA có giá trị của biện pháp dự phòng.

3.      Sau kết quả nghiên cứu định tính khả quan, gạo mầm VIBIGABA cần được tiếp tục nghiên cứu nhằm mục tiêu xác minh tác dụng trên biến dưỡng chất béo (Triglyceride, LDL), trên tuần hoàn mạch vành (CPK, troponin, Homocystein) để mở rộng phạm vi ứng dụng cho đối tượng béo phì, người bệnh tim mạch

 

Tp. HCM, ngày 15.5.2013

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng

                                                                                                                    © Copyright 2013

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: